Năm 2015, anh được QCHQ điều động về công tác tại Phòng Cơ khí động lực (Viện Kỹ thuật Hải quân). Đây là một trong các phòng chuyên môn chính của Viện với chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, khai thác, làm chủ, sửa chữa, cải tiến, thiết kế, chế tạo, lắp đặt các trang thiết bị cơ khí, động lực trên tàu và công trình thủy. Trong quá trình công tác và làm việc tại Viện, anh đã tích cực nghiên cứu, phát huy kiến thức được trang bị tại trường và kinh nghiệm trong quá trình công tác vào nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Anh đã trực tiếp tham gia nhiều đề tài, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, trong đó làm chủ nhiệm 05 đề tài, nhiệm vụ. Các đề tài, sáng kiến đều được ứng dụng và phát huy hiệu quả trong thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, SSCĐ của QCHQ và Quân đội.

Luôn xác định phương châm làm việc “Lấy đam mê nghiên cứu làm niềm vui, nguồn động lực”, trước bất kỳ công việc khó khăn nào, Thiếu tá Trần Việt Hà cũng mang hết khả năng, trí tuệ cùng sự nhiệt huyết của mình để thực hiện nhiệm vụ. Hưởng ứng và thực hiện phong trào thi đua (PTTĐ) “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, được lãnh đạo, chỉ huy Viện và trực tiếp là chỉ huy Phòng Cơ khí động lực giao nhiệm vụ, động viên và tạo điều kiện, anh đã hoàn thành 02 đề tài, công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ngành Hậu cần, được ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn. Đó là: “Nghiên cứu, chế tạo, lắp đặt hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt, trang bị trên các đảo chìm và nhà giàn DK”; thiết kế, chế tạo thành công “Máy ép rác thải cứng trang bị cho tàu ngầm”.

leftcenterrightdel
Thiếu tá Trần Việt Hà.

Kể chúng tôi nghe về Đề tài “Nghiên cứu, chế tạo, lắp đặt hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt, trang bị trên các đảo chìm và nhà giàn DK”, Thiếu tá Trần Việt Hà cho biết, mục đích của Đề tài nhằm chủ động cung cấp bổ sung nước ngọt đáp ứng nhu cầu sử dụng của bộ đội hằng ngày trên đảo chìm, nhà giàn DK1. Đồng thời, góp phần thực hiện chiến lược: Xây dựng các điểm đảo và nhà giàn thành căn cứ hậu cần nghề cá, cung cấp nước ngọt và nhu yếu phẩm cho các tàu đánh bắt xa bờ của ngư dân. Yêu cầu nước sau khi qua lọc phải đáp ứng tiêu chuẩn nước ăn uống và sinh hoạt theo quy định của Bộ Y tế, công suất đạt 150 lít/giờ. Ngoài hệ thống chính còn có lượng vật tư dự trữ, thay thế, bảo trì trong 5 năm. Địa điểm lắp đặt tại 18 điểm đảo chìm và 10 nhà giàn DK1. Để thực hiện thành công Đề tài này, anh cùng các thành viên trong Tổ nghiên cứu trực tiếp đến các đảo chìm, nhà giàn DK1 để khảo sát cụ thể tại thực địa và nghiên cứu các phương án triển khai khả thi nhất. Bằng sự quyết tâm, tinh thần tích cực, chủ động, không ngại khó khăn, cùng với nghiên cứu tài liệu, tham khảo ý kiến của cán bộ, nhân viên trực tiếp công tác trên các đảo chìm và nhà giàn, đơn vị quản lý, chỉ trong thời gian ngắn, Tổ đã khảo sát, phác thảo mô hình, đưa ra phương án tối ưu phục vụ thiết kế và thi công, lắp đặt, đảm bảo tiết kiệm, thuận tiện cho người sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng. Sau 2 năm thực hiện, năm 2018, Đề tài đã được các cơ quan Bộ Quốc phòng, QCHQ nghiệm thu, cho phép đưa vào sử dụng. Hiện nay, đã hoàn thành lắp đặt hệ thống này trên các đảo chìm thuộc quần đảo Trường Sa và nhà giàn DK, vận hành tốt, được đơn vị trực tiếp sử dụng đánh giá hiệu quả cao, tiện dụng, dễ bảo quản, bảo dưỡng, góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ngọt của bộ đội. Hệ thống có thể ứng dụng được cả trên các đảo nổi, trạm, đơn vị ven biển. Đặc biệt, mới đây, anh và các thành viên trong Tổ tiếp tục nghiên cứu, thiết kế thành công “Mô hình hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt để phục vụ cho huấn luyện” và đạt giải Nhất cấp Viện và giải Ba trong Hội thi sáng kiến, cải tiến mô hình huấn luyện, trang thiết bị hậu cần và được Tư lệnh QCHQ tặng Giấy khen. Hiện nay, sản phẩm được đưa vào ứng dụng tại Bộ Tư lệnh Vùng 2 và Vùng 4 QCHQ.

Do thực hiện nhiệm vụ dài ngày trên biển, nên lượng rác thải trong sinh hoạt của bộ đội tàu ngầm lớn. Để xử lý rác thải, bộ đội thường cho vào túi trang bị sẵn theo tàu, sau đó, phóng ra ngoài thông qua thiết bị phóng rác của tàu. Với cách làm này, các loại rác để nguyên kích thước, rác nhựa, vỏ bao bì bằng giấy, nhựa… có tỷ trọng nhỏ hơn nước biển, sau khi tàu phóng ra sẽ nổi lên trên mặt biển, dễ làm lộ bí mật. Mặt khác, lượng rác thải lớn chiếm nhiều không gian trên tàu, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của thủy thủ. Như vậy, sự cần thiết phải nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy ép rác thải cứng trên tàu ngầm, kích thước gọn, không sử dụng năng lượng điện của tàu, thuận tiện khi sử dụng và bảo quản. Năm 2016, Thiếu tá Trần Việt Hà được lãnh đạo, chỉ huy Viện tin tưởng giao nhiệm vụ thiết kế, chế tạo máy ép rác thải cứng trang bị cho tàu ngầm. Với tinh thần dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể, anh cùng các thành viên trong Tổ nghiên cứu tài liệu, đề xuất ý tưởng, tổ chức thảo luận, phân tích ưu, nhược điểm từng ý tưởng để đưa ra phương án tối ưu nhất. Tổ đã ứng dụng phần mềm chuyên dụng mô phỏng chuyển động của các chi tiết cơ khí chính xác, tính toán độ bền tối ưu nhằm giảm khối lượng thiết bị xuống tối thiểu để thuận lợi khi vận chuyển, bảo quản, cất giữ, nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu về lực ép của thiết bị. Với sự nỗ lực cao, sau thời gian ngắn, Tổ đã nghiên cứu, chế tạo xong máy ép rác thải, được Hội đồng nghiệm thu cấp Quân chủng đánh giá cao, đề xuất cho phép sử dụng. Sản phẩm đã được chứng nhận sáng kiến cấp Quân chủng và cấp Bộ Quốc phòng. Thời gian tới, có thể được ứng dụng cho tàu mặt nước, các điểm đảo và nhà giàn DK1 không có điều kiện xử lý rác thải.

Với những thành tích đạt được trong quá trình công tác, từ năm 2016-2018, Thiếu tá Trần Việt Hà liên tục được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở”; năm 2018 được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen; năm 2019 được danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quân”; Thủ trưởng Bộ Tư lệnh QCHQ tặng Giấy khen năm 2019, Chỉ huy Viện Kỹ thuật tặng 8 Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong các PTTĐ và nghiên cứu khoa học.

HƯƠNG QUỲNH