Đồng thời, hy vọng cắt đứt, tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và cơ sở hậu cần chiến lược của ta ở khu vực Đường 9 từ Bản Đông đi Sê Pôn - Mường Phìn - Pha Lan.

Ngay sau khi địch mở cuộc hành quân đánh ra Đường 9, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công tiêu diệt địch. Lực lượng sử dụng trong Chiến dịch gồm Binh đoàn 70 (B70), Sư đoàn 2 (Quân khu 5), Sư đoàn 324 (Quân khu Trị - Thiên) và lực lượng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5). Lực lượng và binh khí kỹ thuật tham gia Chiến dịch nhiều nên nhu cầu bảo đảm xăng dầu (BĐXD) rất lớn. Do cơ quan Mặt trận Đường 9 - Nam Lào không có cơ sở bảo đảm tại chỗ nên đã nhanh chóng phối hợp chặt chẽ với cơ quan tiền phương của Tổng cục Hậu cần (TCHC), trực tiếp chỉ huy các binh trạm 16, 17 và 27 bảo đảm vật chất, xăng dầu cho B70 và B5; đồng thời, hiệp đồng với Bộ Tư lệnh 559 sử dụng Binh trạm 32 và 33 trực tiếp BĐXD cho Sư đoàn 2, Sư đoàn 324 và các lực lượng ở Nam Đường 9. Đến giữa tháng 10-1970, các binh trạm hoàn tất khối lượng bảo đảm, củng cố hệ thống kho tàng, trong đó có hệ thống hầm chứa xăng dầu. Riêng đối với việc BĐXD cho các binh chủng kỹ thuật tham gia Chiến dịch rất phức tạp nên Bộ Tư lệnh 559 đã điều các đoàn cán bộ đến từng khu vực nghiên cứu, bố trí mạng lưới BĐXD theo cấp, bảo đảm cho các binh trạm chuẩn bị đủ lượng dự trữ ở các kho từ 180 - 220 tấn xăng, dầu, mỡ các loại.

leftcenterrightdel
Các nữ chiến sĩ đang lắp đặt đường ống dẫn dầu. Ảnh tư liệu

Ngày 19-2-1971, thực hiện Chỉ lệnh Hậu cần số 01/HC của Bộ Tư lệnh Chiến dịch do Đại tá Lương Nhân, Phó Tư lệnh ký về công tác BĐXD, các đơn vị cơ giới khi hành quân đến vị trí tập kết phải mang theo đầy đủ cơ số xăng dầu (quy định cho các loại phương tiện trong 2 tháng chiến đấu): Xe xích và xe chiến đấu là 1.000 km, xe vận tải là 3.000 km (chưa kể lượng xăng dầu tiêu thụ trong hành quân tới vị trí tập kết chiến dịch). Cụ thể nhu cầu vật chất xăng dầu của B70 là 426 tấn (trong đó có 262 tấn xăng, 144 tấn dầu diesel, 20 tấn dầu mỡ phụ); B5 là 145 tấn (trong đó có 70 tấn xăng, 60 tấn dầu diesel, 15 tấn dầu mỡ phụ). Riêng lực lượng Phòng không - Không quân trong mỗi quý phải cung cấp cho các tiểu đoàn tên lửa 22 tấn xăng, 27 tấn diesel; cung cấp cho tiểu đoàn cao xạ 15 tấn xăng. Trong Chiến dịch, bộ đội xăng dầu đã tiếp nhận được 608 tấn xăng dầu (riêng trong tháng 02 và tháng 3-1971 đã tiếp nhận 458 tấn), chiếm 7% tỷ lệ khối lượng vật chất bảo đảm cho toàn Chiến dịch, đồng thời đã dự trữ được một khối lượng lớn xăng dầu tại các binh trạm ở hậu phương kế cận. Việc bảo đảm khối lượng xăng dầu tăng gấp 10 lần so với năm 1969 trên quãng đường dài qua các địa hình phức tạp là việc làm táo bạo và rất sáng tạo của bộ đội xăng dầu. Nhờ đó đã góp phần quyết định vào việc tăng khả năng vận tải cơ giới và sử dụng các phương tiện kỹ thuật quân sự, giúp Mặt trận Đường 9 - Nam Lào nhanh chóng kết thúc thắng lợi.

Để có được thành công trên, ngay từ năm 1969, bộ đội xăng dầu của TCHC và Bộ Tư lệnh 559 thi công hoàn thành được 2 tuyến ống nối liền với hậu phương: Tuyến đường ống vượt đèo Mụ Giạ qua Na Tơ vào đến Ka Vát dài 350km. Từ đây xăng dầu được đóng thùng phuy chuyển lên Chà Lỳ để thả trôi trên sông Sê Băng Hiêng vào Khe Vinh nhập kho phía bắc Đường 9. Đồng thời, Đảng ủy Cục Xăng dầu quyết định sử dụng các loại đường ống dã chiến để xây dựng tuyến đường ống phía đông Trường Sơn dài 18km, vượt qua các điểm cao 200, 400, 700, 900. Đến cuối năm 1969, bộ đội Xăng dầu đã kéo dài tuyến ống Đường 18 tới Bản Cọ, nâng chiều dài tuyến K200 - Bản Cọ lên 38km, trong đó, có 3 trạm bơm, 3 khu kho với tổng sức chứa đạt 900m3. Đến giữa năm 1970, dòng xăng dầu đã đến Kho K6, tuyến ống Đường 18 có chiều dài 70km với tổng sức chứa 990m3, trong đó, có 5 trạm bơm, 4 khu kho. Do lực lượng vận tải cơ giới tăng nhanh, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu lớn, hình thức tổ chức tiểu đoàn đường ống trực thuộc binh trạm không còn phù hợp, ngày 20-10-1970, Trung đoàn đường ống 592 - Trung đoàn đường ống đầu tiên của tuyến chi viện chiến lược thuộc Bộ Tư lệnh 559 được thành lập có nhiệm vụ phụ trách tuyến ống dài 354 km chạy qua tỉnh Quảng Bình (Việt Nam) đến các tỉnh Xa-va-na-khét, Xa-ra-van (Lào). Ngay sau khi thành lập, Trung đoàn triển khai kéo dài tuyến ống từ Bản Cọ vào Ra Mai và Bản Cọ xuống Bản Đông bảo đảm cho các lực lượng Mặt trận Đường 9 - Nam Lào.

Để BĐXD cho Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, ngành Xăng dầu đã chủ động, nhanh chóng xây dựng nối liền tuyến ống giữa tiền tuyến với tuyến đường ống hậu phương quốc gia tạo thành mạng vận chuyển xăng dầu liên hoàn. Đầu năm 1971, Binh trạm 170 triển khai thi công tuyến ống trải dài trên nhiều tỉnh; tổ chức 4 tiểu đoàn quản lý, vận hành 400 km đường ống, 31 trạm bơm, 4 kho tiếp nhận, 3 kho cấp phát lẻ và thực hiện vận hành đưa dòng xăng từ hậu phương ra phía trước. Trung đoàn 592 phụ trách tuyến K200-K7 (Nam Mường Noòng) và xây dựng tuyến ống vượt Đường 9 vào khu vực Ngã ba Sa-đi (Tây Bắc Mường Noòng). Đến mùa khô 1970-1971, Trung đoàn kéo dài thêm 209km tuyến, trong đó có 127km tuyến chính, 57km tuyến nhánh, 25km tuyến vào kho và xây dựng 3.400m3 kho bằng bể sắt và bể cao su dã chiến. Những nơi khó thi công, Trung đoàn tập trung lực lượng, ưu tiên bảo đảm kỹ thuật, vật tư nhanh chóng làm dứt điểm. Nhờ đó, chỉ trong mùa khô, Trung đoàn đã thi công được 87,3km tuyến ống và 1.295m3 kho.

Nhằm đẩy mạnh việc vận chuyển xăng dầu vào chiến trường, trong đó có Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, tháng 1-1971, TCHC thành lập Binh trạm 171 thuộc Cục Xăng dầu để quản lý vận hành tuyến ống 214km từ Tân Ấp vào Điểm cao 400 ở khu vực Quảng Bình. Trên địa bàn chiến dịch, bộ đội xăng dầu đã nối liền tuyến ống Tân Ấp - Thọ Lộc - Gianh - Long Đại - K29A thành hệ thống liên hoàn bảo đảm cho hướng Đông và Tây Trường Sơn. Bên cạnh đó, các kho xăng dầu còn nhận nguồn xăng dầu bằng đường thủy từ cảng Gianh đưa lên để phục vụ Chiến dịch.

Đối với B70 hành quân từ Nghệ An, Quảng Bình vào Bắc Đường 9, các binh trạm đã bảo đảm xăng dầu cho 1.500 chuyến xe để vận chuyển người và vũ khí trang bị, đồng thời bảo đảm cho Sư đoàn 324 hành quân gấp từ Trị - Thiên ra, cùng Sư đoàn 2 triển khai chiến đấu ở Đường 9. Các đơn vị kế cận làm nhiệm vụ hậu cần phía sau, tạo chân hàng cho các binh trạm phía trước. Đặc biệt, bảo đảm kịp thời cho các binh trạm làm công tác hậu cần Chiến dịch tới tận các trận địa pháo và trung đoàn bộ binh.

Ở các hướng của B4, B5, Bộ Tư lệnh 559, các binh trạm cũng được BĐXD kịp thời để vận chuyển chi viện vật chất hậu cần - kỹ thuật. Trên hướng Đường 6 và đường 18, khối lượng vận tải tăng từ 2 - 3 lần, Cục Vận tải, Bộ Tư lệnh 559 và lực lượng vận tải các đơn vị tổ chức những chiến dịch vận tải đáp ứng các yêu cầu đột xuất. Khi bộ đội ta chuyển sang tiến công truy quét địch, bộ đội xăng dầu và lực lượng vận tải nhanh chóng kéo dài cung vận chuyển, bám sát bộ đội, kịp thời chuyển gạo, đạn lên phía trước và chuyển thương binh về tuyến sau. Để BĐXD kịp thời cho các nhiệm vụ của Chiến dịch, Hậu cần Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã chuẩn bị chu đáo phương tiện xe, khí tài bơm hút, dầu mỡ phụ...; quy định cụ thể cho từng cấp dự trữ xăng dầu. Lập kế hoạch bảo đảm, quy định rõ việc phân tuyến, phân cấp chở; hạn chế xe chạy ngoài tuyến giảm hao tổn xăng dầu. Về phương tiện chứa đựng cho đơn vị vào chiến trường, bảo đảm toàn bộ là bi đông (loại 20 lít); đơn vị hoạt động ở gần khu vực tác chiến thì cấp 50% bi đông; đơn vị ở Nam Quân khu 4 sử dụng bồn 800 lít hoặc phi 200 lít.

Vào mùa khô 1970-1971, việc chuẩn bị của Trung đoàn 592 gặp khó khăn do địch đánh phá vào tuyến Trường Sơn sớm, rộng và dữ dội hơn. Trong tháng 11 và 12-1970, các trọng điểm như Sê Băng Hiêng (Đường 16A), Chà Là (Đường 20), Xiêng Phan (Đường 12), Pha Băng Nưa (Đường 18), địch đã huy động 387 lần chiếc máy bay B-52 ném bom, trong đó có 91 lần trúng tuyến ống. Địch đánh tuyến chính, ta làm tuyến phụ, làm tuyến vòng tránh, nghi binh. Trong vòng chưa đầy 5 tháng, ta đã phải thay thế 1.318 ống, làm đi làm lại tuyến 4 lần. Trước thủ đoạn đánh phá ác liệt của địch, Trung đoàn 592 quyết định chuyển tuyến ống ở khu vực Pha Băng Nưa sang bờ phía Nam sông Sê Băng Hiêng. Để mở đường thi công, nhiều tổ phá bom mìn của Tiểu đoàn 668 thuộc Trung đoàn 592 được thành lập và chỉ trong thời gian ngắn đã phá được 27 quả bom các loại. Từ khi hoàn thành tuyến tránh ở sông Sê Băng Hiêng, mặc dù địch tiếp tục đánh phá, ngăn chặn, nhưng phần lớn tuyến bảo đảm bí mật.

Trong thời gian diễn ra Chiến dịch, tại khu vực tuyến ống của Trung đoàn 592, địch đưa lực lượng lớn bộ binh đánh chiếm các điểm cao 660, 723 để tiến về hướng Sê Pôn. Phối hợp với các đơn vị bộ binh, các chiến sĩ xăng dầu đã mưu trí, dũng cảm đánh địch bảo vệ tuyến ống và trạm bơm. Tiểu đoàn 968, sau 42 ngày bám tuyến chiến đấu đã tiêu diệt được 197 tên, bắt sống 26 tên, thu 62 súng và 50 quả mìn, lựu đạn. Với thành tích này, Tiểu đoàn 968 đã vinh dự được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Cùng với đánh địch, Trung đoàn 592 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ vận hành đưa lên phía trước được 10.500m3 xăng dầu. Đặc biệt, sáng 13-2-1971, Tiểu đoàn 668 nhanh chóng khắc phục các đoạn tuyến bị bom đạn địch đánh phá, tổ chức vận hành đẩy xăng vào Kho K7 (Điểm cao 310) - đây cũng là lần đầu tiên dòng xăng đường ống vào tới Kho K7. Nhờ vậy, Bộ Tư lệnh 559 thực hiện được nhiệm vụ vận chuyển Chiến dịch, cung cấp xăng dầu và vật chất kịp thời cho các sư đoàn, trung đoàn theo yêu cầu của B70.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những bài học kinh nghiệm về công tác BĐXD trong kháng chiến chống Mỹ nói chung, cho Mặt trận Đường 9 - Nam Lào nói riêng vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt trong điều kiện của chiến tranh công nghệ cao, vấn đề chuẩn bị trước của hậu cần chiến lược gắn với công tác chuẩn bị của khu vực phòng thủ từ thời bình; vấn đề tổ chức ngụy trang, nghi binh để bảo vệ hệ thống kho trạm, tuyến ống xăng dầu trên các tuyến đường vận tải chiến lược... cần được nghiên cứu kế thừa, phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể, nhằm tạo nên thế trận BĐXD vững chắc, đáp ứng cho mọi tình huống chiến tranh.

Đại tá, PGS, TS DƯƠNG HỒNG ANH, Phó viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam