Ðược các thế lực đế quốc, thù địch mua chuộc, xúi giục, viện trợ quân sự, tập đoàn Khơ me đỏ Pôn Pốt - Iêng xa ry đã công khai gây hận thù dân tộc, trắng trợn tuyên bố Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp. Tháng 5/1975, cùng với thực hiện chính sách diệt chủng đối với nhân dân Campuchia, Pôn Pốt - Iêng xa ry đã xua quân lấn chiếm một số đảo ở vùng biển Tây Nam của Việt Nam; xâm phạm biên giới ở nhiều nơi từ Hà Tiên đến Tây Ninh; đánh vào các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Ðắc Lắc của Việt Nam. Nguy hiểm hơn, ngày 30/4/1977, Pôn Pốt - Iêng xa ry chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược vào lãnh thổ biên giới Tây Nam Tổ quốc ta, gây cho ta nhiều tổn thất về người và của. Ðầu năm 1978, chúng đã điều 13 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương áp sát biên giới, liên tiếp mở các cuộc tiến công vào lãnh thổ của ta, có nơi chúng tiến sâu tới 15 - 20km.

Từ tình hình trên, ngày 27/01/1978, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã trình Bộ Chính trị về vấn đề biên giới Tây Nam, nêu rõ bản chất phản động, phản cách mạng của tập đoàn Pôn-pốt và xác định: “chừng nào tập đoàn lãnh đạo phản động Campuchia do Pôn-pốt cầm đầu chưa bị nhân dân Campuchia đánh đổ thì vấn đề biên giới chưa được giải quyết một cách dứt khoát”. Bộ Chính trị đã đồng ý và đưa ra chủ trương phải giải quyết càng sớm càng tốt cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam. Ngày 06 và 07/12/1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua lần cuối kế hoạch phản công và tiến công giải phóng Campuchia.

Ngày 23/12/1978, Pôn-pốt điều động 19 trong tổng số 23 sư đoàn chủ lực, mở cuộc tiến công sâu vào đất ta, quân ta lập tức mở cuộc phản công và tiến công trên toàn tuyến biên giới, thực hiện quyết tâm chiến lược đã đề ra. Ta sử dụng lực lượng rất mạnh, đủ các quân binh chủng, gồm 18 sư đoàn của 3 quân khu (5, 7, 9) và 3 quân đoàn (2, 3, 4) cùng 600 xe tăng và xe bọc thép, 137 máy bay, 160 tàu thuyền chiến đấu và vận tải, tổng số trên 27 vạn người, phối hợp với lực lượng cách mạng của Bạn, tiến công thần tốc, bất ngờ, mãnh liệt. Ngày 07/01/1979 giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh; ngày 08/01/1979, Ðảng Nhân dân Cách mạng Campuchia thành lập; tiếp đó ngày 12/01/1979, Bạn tuyên bố thành lập Nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia, công bố chính sách đối nội, đối ngoại, quyền đại diện chân chính, hợp pháp của nhân dân Campuchia. Ðến ngày 17/01/1979, giải phóng thị xã cuối cùng là Kô-kông, đánh sập hệ thống chính quyền Pôn-pốt trong cả nước, giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Ngày 18/12/1979, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Bạn ký hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác toàn diện. Theo yêu cầu của Bạn, quân đội ta để một bộ phận lực lượng ở lại Campuchia thực hiện nghĩa vụ quân tình nguyện, cùng chuyên gia các ngành giúp Bạn truy quét địch, bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được”.

Ðể bảo đảm kịp thời các mặt hậu cần cho tác chiến, từ tháng 6/1978, thực hiện nghị quyết của Trung ương Ðảng, quyết tâm của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, công tác chuẩn bị hậu cần đã được triển khai khẩn trương và toàn diện. Tổng cục Hậu cần (TCHC) chỉ đạo hậu cần các quân khu, quân đoàn vừa bảo đảm cho chiến đấu biên giới, vừa tích cực dự trữ chuẩn bị cho tổng tiến công. Chỉ trong thời gian ngắn, lượng dự trữ lương thực thực phẩm của các quân khu, quân đoàn đã vượt kế hoạch được giao, trong đó: Quân khu 9 dự trữ đủ 80 ngày, Quân đoàn 4 có 75 ngày, Quân khu 5 và Quân khu 7 có 60 ngày, Quân đoàn 3 có 45 ngày, Quân đoàn 2 vừa cơ động từ Phú Bài (Huế) vào ngày 30/12 cũng dự trữ đủ 30 ngày.

TCHC tăng cường lực lượng quân y và vận tải nhằm nâng cao khả năng bảo đảm hậu cần của các đơn vị, trong đó Quân khu 5 được tăng cường thêm 56 xe ô tô; Quân khu 7 được tăng thêm 100 xe ôtô, Quân khu 9: 47 xe ô tô và 1 đội điều trị; Quân đoàn 2: 146 xe ô tô; Quân đoàn 3: 108 xe ô tô và 1 đội điều trị; Quân đoàn 4: 124 xe ô tô và 1 đội điều trị; Quân chủng Hải quân: 40 xe ô tô.

Tăng cường mở rộng tổ chức và lực lượng hậu cần ở phía Nam. Trong đó, TCHC tổ chức thêm 1 tiểu đoàn vận tải thủy, 01 phân đội ô tô tiếp phẩm đường dài, 2 trạm chế biến hải sản (1.000 tấn/năm). Tiếp nhận 2 tiểu đoàn vận tải ô tô của Tổng cục Kỹ thuật và Tổng cục Xây dựng kinh tế. Ðưa một bộ phận của Sư đoàn vận tải ô tô 571, 4 đội điều trị, một số tổ vệ sinh phòng dịch từ phía Bắc vào phía Nam.  Hậu cần Quân khu 5 tổ chức thêm 1 tiểu đoàn vận tải ô tô, 1 bệnh viện và 2 đội điều trị. Hậu cần Quân khu 7, tổ chức thêm 1 tiểu đoàn vận tải ô tô, 3 bệnh viện và 3 đội điều trị, 2 bệnh viện trung chuyển ( Bệnh viện Tây Ninh và Bệnh xá Lộc Ninh), 2 bộ phận tiền phương (Tiền phương 1 ở Tây Ninh, Tiền phương 2 ở Sông Bé) chỉ huy 2 trạm hậu cần phía trước (sau chuyển thành Hậu cần Mặt trận 479 và Mặt trận 779). Hậu cần Quân khu 9 tổ chức thêm 2 tiểu đoàn vận tải ô tô, 1 bệnh viện, 2 đội điều trị, 2 đội phẫu thuật, 2 binh trạm hậu cần. Hậu cần Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 mỗi quân đoàn tổ chức thêm 01 đội điều trị. Quân chủng Hải quân thành lập thêm 01 đội điều trị ở đảo Phú Quốc.

Các bệnh viện, đội điều trị từ cấp chiến lược đến chiến thuật đều mở rộng, tăng khả năng thu dung (Bệnh viện 175 từ 700 giường tăng lên 1.000 - 1.500 giường, có lúc tới 2.300 giường; Bệnh viện Quân đoàn 3, 4 từ 300 lên 700 - 800 giường...). Ngoài ra, các quân khu, quân đoàn còn tổ chức các đoàn an dưỡng với khả năng thu dung 5.150 giường”.

 TCHC tổ chức cơ quan đại diện tiền phương phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, có các cơ sở như bệnh viện, kho tàng, phân đội vận tải, cơ sở sản xuất. Triển khai Binh trạm 18 tại Quy Nhơn để tiếp nhận và vận chuyển giao hàng cho hậu cần Quân khu 5 ở Plây-ku và Ðức Cơ; đồng thời tổ chức cơ quan nghiệp vụ đi theo Sở chỉ huy của Bộ lên Trảng Lớn (Tây Ninh) vào tháng 12/1977.

Quá trình phát triển tổng tiến công và truy quét địch, công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn, có những yêu cầu rất khác khi phục vụ bộ đội đánh địch ở bên trong biên giới, Tiền phương TCHC đã hình thành 02 sở chỉ huy đi theo hai hướng: Trên hướng chủ yếu, thành lập Sở chỉ huy phía trước của Tiền phương TCHC nằm trong Sở chỉ huy Tiền phương của Bộ, có nhiệm vụ theo dõi nắm tình hình công tác bảo đảm cho các đơn vị hoạt động trên hướng chủ yếu (Quân khu 7, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và các quân binh chủng). Hướng quan trọng có “Tiền phương nhẹ” của TCHC nằm trong Sở chỉ huy nhẹ của Tiền phương Bộ, có nhiệm vụ theo dõi, nắm tình hình công tác bảo đảm cho Quân khu 9, Quân đoàn 2 và lực lượng thủy quân đánh bộ khi phối hợp tác chiến với Quân đoàn 2.

Hậu cần Quân khu 5 hình thành Bộ phận cơ bản Cục  Hậu cần Quân khu ở Ðà Nẵng, có bệnh viện 17 ở Quy Nhơn, Trung đoàn 230 vận tải ô tô, Bệnh viện 13 và kho tổng hợp. Khi chiến sự xảy ra trên tuyến biên giới, Quân khu triển khai căn cứ La Sơn (Ngã ba đường 19). Khi phát triển đánh địch bên kia biên giới, tổ chức thêm 01 căn cứ phía trước tại Ðức Cơ (gần biên giới phía Bắc núi Phượng Hoàng). Còn căn cứ Buôn Ma Thuột kết hợp với tỉnh đội Ðắc Lắk, bảo đảm cho tác chiến ở khu vực Ðức Lập.

Quân khu 7 thành lập Bộ phận cơ bản của Cục Hậu cần tại Thành phố Hồ Chí Minh, có Bệnh viện 7A ở Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện 7B ở Biên Hòa và Bệnh viện 7C ở Thủ Ðức. Trên hướng đường 13 có căn cứ hậu cần (CCHC) Lộc Ninh, gồm cụm kho tổng hợp, Bệnh viện dã chiến 7C, Ðội điều trị cơ động tiền phương. Trên hướng đường 22 đi theo Sở chỉ huy Quân khu có CCHC 1, gồm Kho cơ động ở suối Nước Trong, Bệnh viện dã chiến 7A tại Cần Khởi (phía Tây Bắc tỉnh Tây Ninh).

Hậu cần Quân khu 9 hình thành 3 khu vực (căn cứ) hậu cần: Bảo đảm cho hướng chủ yếu (địa bàn Bảy Núi và Tịnh Biên) có CCHC ở Chi Lăng - Núi Bà Cậu; bảo đảm cho hướng quan trọng Hà Tiên và Quang Thành có CCHC ở Kiên Lương- Hòn Chông- Ba Hòn; bảo đảm cho hướng Hồng Ngự có một số phân đội hậu cần quân khu kết hợp với hậu cần tỉnh đội Ðồng Tháp. Bộ phận cơ bản Cục  Hậu cần Quân khu ở thành phố Cần Thơ, có Bệnh viện 121 và Bệnh viện 120 ở Mỹ Tho.

Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn của năm 1977 và đầu năm 1978, ngành Hậu cần đã nhanh chóng xây dựng thêm một số phân đội và hình thành sớm thế bố trí khá vững chắc, đáp ứng kịp thời yêu cầu của tác chiến, từ những ngày đầu khi địch lấn chiếm cho đến khi đánh địch ra khỏi biên giới và tổng tiến công giải phóng hoàn toàn Campuchia.

"Trong hơn 2 năm (4/1977 - 6/1979) của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn-pốt - Iêng Xa-ry, công tác bảo đảm hậu cần đã đạt được những kết quả rất to lớn. Tổng số vật chất bảo đảm được 213.150 tấn, trong đó có 81.000 tấn hàng quân nhu; 4.350 tấn hàng quân y; 97.000 tấn xăng dầu; 30.000 tấn hàng doanh trại. Giúp Bạn 20.900 tấn vật chất các loại; vận chuyển 180.000 tấn hàng... Ngành Hậu cần đã không ngừng vươn lên, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của quân và dân ta".

Ngày nay, sức mạnh tổng hợp cũng như uy tín, vị thế của nước ta đã được nâng cao, ngày càng lớn mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động quốc tế vẫn chưa từ bỏ âm mưu và hành động xâm lược đất nước ta. Chính vì thế, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu kế thừa và phát triển những bài học về công tác hậu cần trong chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong đó có chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, vận dụng sáng tạo vào điều kiện mới. Trong đó cần chú ý một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, quan điểm hậu cần toàn dân của Ðảng và bám sát thực tiễn đất nước, yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Trên cơ sở đó, có chủ trương, giải pháp toàn diện nhằm xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần; chủ động chuẩn bị trước một bước về hậu cần đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, tập trung quy hoạch, xây dựng các CCHC chiến lược, chiến dịch, căn cứ hậu phương, CCHC khu vực phòng thủ (KVPT)... tạo thế trận hậu cần rộng khắp, liên hoàn, vững chắc, gắn kết chặt chẽ giữa bảo đảm tại chỗ với bảo đảm cơ động, hình thành các khu vực hậu cần hoàn chỉnh trên từng vùng, miền, hướng, địa bàn chiến lược, đủ khả năng độc lập bảo đảm và chuyển hoá linh hoạt, đáp ứng mọi tình huống về quốc phòng, an ninh. Chú trọng xây dựng hậu cần nhân dân rộng khắp làm cơ sở, hậu cần KVPT vững mạnh làm nền tảng, hậu cần quân đội ngày càng chính quy, hiện đại làm nòng cốt.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần tại chỗ theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X), Nghị định số 152/2007/NÐ-CP, Nghị định số 02/2016/NÐ-CP của Chính phủ về xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành KVPT vững chắc trong tình hình mới. Tham mưu cho các địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần KVPT; tiếp tục huy động nguồn lực đầu tư xây dựng căn cứ hậu phương, CCHC KVPT theo quy hoạch, lộ trình đã xác định. Mặt khác, nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện cơ chế, quy chế xây dựng và hoạt động của hậu cần KVPT; cơ chế huy động nguồn lực tại chỗ cho nhiệm vụ quốc phòng, phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường.

Bốn là, triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp xây dựng ngành Hậu cần Quân đội vững mạnh, đủ khả năng làm nòng cốt tiến hành công tác hậu cần toàn dân, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Hậu cần các cấp tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 623-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Công tác hậu cần quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị xây dựng các kế hoạch, đề án... phù hợp với tình hình thực tiễn, bảo đảm tốt cho sẵn sàng chiến đấu, đặc biệt là bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới, các đơn vị, lực lượng làm nhiệm vụ ở các khu vực trọng điểm; giữ ổn định và cải thiện đời sống bộ đội. Thực hiện hợp tác quốc tế về hậu cần quân sự, nhất là các nước có chung đường biên giới theo đúng chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.

Năm là, trước yêu cầu cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, hậu cần các cấp phát huy hơn nữa tinh thần chủ động “thấy trước, lo trước”, tích cực xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các văn kiện hậu cần bảo đảm cho tác chiến. Ðồng thời, tăng cường huấn luyện, luyện tập, diễn tập hậu cần theo các phương án, tình huống tác chiến bảo vệ Tổ quốc; phối hợp với các địa phương nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng hậu cần dự bị động viên và chủ động chuẩn bị chu đáo mọi mặt về hậu cần, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Cùng với đó, quan tâm làm tốt công tác tổng kết, nghiên cứu phát triển lý luận hậu cần, phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ, nghệ thuật quân sự, trang bị của lực lượng vũ trang và tư duy mới của Ðảng về bảo vệ Tổ quốc, tạo cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hậu cần, góp phần bảo đảm cho Quân đội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.¨

Thiếu tướng TRẦN DUY GIANG, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần