Ra mặt đường mà chỉ huy

Bước vào tháng 4-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ đang giữa đợt tấn công thứ 2 vô cùng gay go quyết liệt. Việc vận chuyển quân, vũ khí, đạn dược, nhu yếu phẩm và trang bị y tế, thuốc chữa bệnh… cho Chiến dịch rất khẩn trương. Hàng trăm xe vận tải hoạt động liên tục trên đường. Nhưng do đường xấu, lại bị bom đạn địch cày xới, xe cũ chở hàng nặng nên hỏng hóc bất cứ lúc nào. Tình huống, sự cố trục trặc kỹ thuật xảy ra trên đường không còn “như cơm bữa” nữa, mà gấp nhiều lần, ảnh hưởng rất lớn đến tác chiến Chiến dịch. Trước tình hình ấy, Cục trưởng Cục Vận tải Đinh Đức Thiện đã ra một quyết định rất đúng đắn, sáng suốt và rất táo bạo, gồm có 6 chữ: “Ra mặt đường mà chỉ huy”.

leftcenterrightdel

"Cầu người" ở chiến khu D trong kháng chiến chống Mỹ. Ảnh: Tư liệu 

“Quân lệnh như sơn”, tất cả các cơ quan của đại đội xe, binh trạm và ngay cả của Cục Vận tải tiền phương cũng bám mặt đường, các trạm barie. Nhờ đó, khi gặp khó khăn, cán bộ các cấp có mặt ngay để giải quyết. Cũng nhờ đó, cán bộ và chiến sĩ lái xe gần gũi, đồng cam cộng khổ, cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Chỉ huy bám mặt đường đã tạo niềm hưng phấn, đoàn kết, thương yêu nhau trong bộ đội vận tải chiến dịch, góp phần quan trọng vào Chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ.

Đưa kỹ thuật quân y ra phía trước

Trong những năm 1965-1966, ở Chiến trường Tây Nguyên có 03 hình thức chuyển thương, gồm: theo đoàn, theo hành lang và theo cung trạm. Chuyển thương theo đoàn thường được áp dụng khi chiến sự xảy ở một địa điểm, không có điều kiện chuyển ngay thương binh về phía sau. Khi trận đánh kết thúc, tất cả thương binh tập trung lại thành đoàn đi cùng bộ đội về hậu cứ. Chuyển thương theo hành lang được áp dụng cho những đơn vị đứng chân trên một hướng độc lập, địa bàn đang có sự giằng co giữa ta và địch. Nhiệm vụ tải thương là đưa thương binh từ đội phẫu phía trước về bệnh xá trung đoàn, bệnh xá tỉnh đội, cũng có thể là bệnh xá dân y được bố trí ở một khu vực an toàn, có điều kiện nuôi dưỡng tốt hơn. Lực lượng tải thương dựa vào người dân địa phương đưa thương binh, bệnh binh từ bản này sang bản khác và tiếp chuyển như vậy đến cơ sở điều trị quy định. Hạn chế của phương pháp này là thời gian chuyển thương kéo dài, phải lần lượt đi qua các bản với quãng đường từ 30 - 40 km, có khi phải mất một tuần mới tới nơi. Chuyển thương theo hệ thống cung trạm được áp dụng khi vùng giải phóng mở rộng, kết hợp với các trạm vận tải của Cục Hậu cần. Mỗi trạm có y tá, cứu thương bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, nhân viên của trạm, đồng thời bảo đảm y tế cho thương binh qua trạm. Đội vận tải chuyển hàng ra, khi trở về thì dìu, cáng thương binh. Nếu bố trí được các trạm gần nhau thì sức khỏe của người tải thương và thương binh ổn định hơn, nhưng thời gian chuyển thương tăng gấp đôi vì phải chờ ngày hôm sau mới có người đến giao hàng và giao nhận thương binh. Nếu bố trí các trạm để chuyển thương mỗi ngày/trạm thì cách một ngày mới có chuyến chuyển thương.

Quân y đã kết hợp với bộ đội Vận tải tranh thủ hiệu chỉnh lại đường vận chuyển tránh bớt đường vòng, dốc cao. Những nơi không tránh được thì tạo bậc làm lan can; chăng dây khi qua suối; sửa chữa hầm, lán trại, chống dột, che nắng mưa, đào rãnh tháo nước để thương binh qua trạm yên tâm hơn. Đối với những trường hợp khẩn trương, Quân y đề nghị hình thức chuyển thương đi một mạch từ 6 - 7 ngày đường từ tuyến trước đến tuyến sau. Cách này nhanh nhưng vất vả và khó thực hiện vì không đủ người khiêng cáng. Dù với hình thức nào, chuyển thương vẫn rất chậm: Thương binh được chuyển từ phía trước về đến đội phẫu thuật trung đoàn mất từ 6-12 giờ, chỉ được 20-26%; từ 12-24 giờ được 27-28%; trên 24 giờ chiếm tới 48-52%.

Trước tình hình ấy, Quân y B3 chủ trương “đưa kỹ thuật ra phía trước” nhằm nâng cao khả năng xử lý tại chỗ những vết thương từ đơn giản đến phức tạp. Trong điều kiện chiến trường, Quân y B3 đã tận dụng mọi hình thức đào tạo, huấn luyện để nâng cao nghiệp vụ, kỹ thuật cho lực lượng quân y; coi trọng tạo nguồn nhân viên sơ cấp, y tá, dược tá. Đến tháng 7-1968, cả Chiến trường B3 đã đào tạo được 856 người, cơ bản đáp ứng yêu cầu của mặt trận tại thời điểm đó. Mặt khác, sớm đề nghị và được cấp trên có thẩm quyền cho phép mở Trường Quân y B3. Do đó, từ tháng 7-1967-1969, Trường Quân y B3 đã hoàn thành 6 khóa y sĩ chung, 3 khóa dược trung, 2 khóa y sĩ ngũ quan khoa để tăng cường ra phía trước; tháng 7-1968, tổ chức bồi dưỡng chuyên tu 45 y sĩ lâu năm thành bác sĩ. Đến cuối năm 1969, đào tạo được 745 y sĩ, trong đó có 9 đồng chí là đồng bào dân tộc thiểu số.

Với biện pháp đưa kỹ thuật ra phía trước cùng với nhiều biện pháp khác đã làm giảm tỷ lệ tử vong từng năm. Ở các tuyến cơ sở điều trị, tỷ lệ tử vong so với quân số thương binh thu dung giảm dần từ 1,77% (năm 1967) xuống đến 0,27% (năm 1969). Tỷ lệ tử vong trên đường vận chuyển cũng giảm rõ rệt, từ 2% xuống còn 0,4% (Chiến dịch Plây Me năm 1965). Tỷ lệ tử vong ở các tuyến đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, từ 3,25% (Chiến dịch Plây Me năm 1965) xuống còn 2,6% (Xuân năm 1967) và 1,3% (Tổng tiến công Mậu Thân 1968).

Chủ trương hậu cần “ra phía trước” đã và đang được ngành Hậu cần Quân đội phát huy hiệu quả trong mọi hoạt động, trở thành nét đẹp truyền thống của toàn Ngành, đó là: Hướng ra phía trước, hướng về cơ sở, tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, hết lòng phục vụ bộ đội và Nhân dân.

PHẠM XƯỞNG