Tiếp đó tại Hội nghị quân sự lần thứ 5 (27/9/1947), Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp đã chỉ rõ nhiệm vụ của hậu cần là: “Phải chuẩn bị cho bộ đội để giải quyết vấn đề quân nhu trong trường hợp khó khăn, phải chú trọng tăng gia sản xuất, phải chú trọng tiếp tế cho những miền bị chiếm, lo phân tán và bảo vệ kho tàng... cần phải bảo vệ cơ xưởng, tiết kiệm đạn dược, nêu cao tinh thần giữ gìn vũ khí, chuẩn bị việc điều trị thương bệnh binh, lúc cần phải dựa vào dân. Dạy cho bộ đội những phương pháp tự chữa thông thường”.

Mở đầu chiến dịch tiến công, ngày 7/10, thực dân Pháp huy động 10.000 quân, 40 máy bay, 40 tàu xuồng hình thành 2 gọng kìm, một mũi tiến công theo đường số 4 lên Cao Bằng, một mũi dọc theo sông Lô tiến lên Tuyên Quang nhằm bao vây căn cứ địa Việt Bắc. Lúc đầu ta bị bất ngờ hướng tiến công của Pháp, nhưng Bộ Tổng chỉ huy đã nhanh chóng đánh giá lại tình hình, kịp thời điều chỉnh kế hoạch tác chiến, tiến tới bẻ gãy từng gọng kìm của địch, làm cho chúng không thực hiện được kế hoạch hội quân, lực lượng bị dàn mỏng và tiêu hao. Ngày 21/11/1947, nhận thấy cuộc hành quân không đạt được mục tiêu vây bắt cơ quan đầu não kháng chiến của ta và bị đánh tiêu hao nhiều lực lượng quân Pháp bắt đầu bí mật rút quân khỏi Việt Bắc. Ta tổ chức đánh địch ở nhiều hướng và đã loại khỏi chiến đấu hơn 7.000 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn và làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, bảo toàn và phát triển bộ đội chủ lực, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não và căn cứ địa cách mạng của cả nước.

Về công tác hậu cần, thực hiện chỉ thị của Trung ương, các địa phương đã  làm tốt công tác chuẩn bị. Các cơ quan liên hệ với các địa phương tiến hành chuyển tài liệu đến nơi an toàn, chọn các địa điểm sơ tán dự phòng khi địch đánh phá. Một số kho quân nhu được điều chỉnh di chuyển lên gần các vị trí chuẩn bị chiến đấu để bảo đảm kịp thời. Các quân y viện, cơ sở quân y chuyển sâu vào trong căn cứ, cách xa đường giao thông, tổ chức phân tán thành nhiều bộ phận nhỏ để có thể nhanh chóng di chuyển tránh địch và cơ động cứu chữa thương binh. Đồng thời chuẩn bị sẵn các vị trí tiếp nhận thương binh.

Ngày 15/10, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”. Chỉ thị đề ra một số nhiệm vụ trước mắt, kiên quyết đánh bại cuộc tiến công của địch, chỉ đạo phương hướng sản xuất, xây dựng cơ sở cho các ngành Quân nhu, Quân y, Quân giới. Phân tán xưởng máy, kho tàng, quân y viện lớn thành các bộ phận nhỏ,lẻ, bố trí ở nhiều nơi; các xưởng quân giới, kho tàng, phòng thí nghiệm, viện bào chế... được bố trí ra xa các thị xã, thị trấn, đường cái lớn đề phòng địch phá hoại.

Về đảm bảo quân nhu, các kho lương thực, quân trang, xưởng may dọc Đường số 3 (Phủ Thông – Bắc Cạn) di chuyển nhanh vào rừng, một số kho lương thực ở Phấn Mễ, Chợ Mới được phân tán vào các đình chùa, nhà dân. Quân nhu các khu, đơn vị đã trực tiếp liên hệ với địa phương để mua gạo, thực phẩm và huy động dân công vận chuyển cho bộ đội. Ủy ban kháng chiến hành chính địa phương tập trung lương thực, thực phẩm của nhân dân đóng góp ở các địa điểm qui định để bộ đội đến nhận, hoặc tổ chức các nhóm du kích từ 5-7 người vận chuyển trực tiếp cho các đơn vị. Ở những nơi khả năng cung cấp tại chỗ khó khăn, quân nhu tổ chức mua gạo, thực phẩm và chuyển từ các địa phương khác đến. Cụ thể, Quân nhu Chiến khu 1 mua gạo từ Phúc Yên, Thái Nguyên, vận chuyển lên Bắc Cạn bảo đảm cho Trung đoàn 72 đánh địch trên Đường số 3. Quân nhu Chiến khu 12 mua gạo tại Bắc Ninh, Bắc Giang vận chuyển tới Gia, Văn Mịch cho Trung đoàn 28 chiến đấu trên Đường số 4 (Lạng Sơn). Các đơn vị chiến đấu trên mặt trận Sông Lô được Quân nhu Khu 10 mua gạo từ Vĩnh Yên, Phú Thọ chuyển lên Tuyên Quang, Chiêm Hóa cung cấp. Nhiều cơ quan, đơn vị vừa chiến đấu, vừa tổ chức cùng nhân dân thu hoạch lương thực, cất giấu tài sản, vừa tạo nguồn bảo đảm tại chỗ. Trong chiến đấu bộ đội tác chiến ở đâu dựa vào dân ở đó giúp đỡ nấu ăn, tiếp tế, phục vụ. Nhân dân Phú Thọ, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang đã tạo mọi điều kiện tiếp tế cơm nước phục vụ bộ đội mai phục và đánh địch trên khắp các mặt trận. Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chỉ thị của Bộ Quốc phòng về tăng gia sản xuất để tự cấp, tự túc, các trung đoàn đã thành lập ban tăng gia và tổ chức các trại tăng gia quy mô đại đội, trung đội. Sự phối hợp giữa các đơn vị, các ngành, nhân dân các địa phương đã giải quyết kịp những trường hợp thiếu lương thực, thực phẩm trong chiến đấu như: Trung đoàn 102, khi đánh chặn địch ở Bắc Cạn hết gạo ăn, Nha Tiếp tế đã nhanh chóng huy động trâu, bò, ngựa của dân kịp thời thồ 10 tấn gạo chuyển cho Trung đoàn. Với thành tích này, Nha Tiếp tế đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi.

Về bảo đảm quân y, đầu năm 1946, theo quyết định của liên bộ Quốc phòng - Y tế về kết hợp quân - dân y, ban dân y ở các khu được tổ chức. Các quân y vụ tổ chức đào tạo y tá, cứu thương để bổ sung cho các đơn vị và tổ chức các phòng bào chế thuốc bộ đội theo tinh thần “Công việc quân y các khu phải được chú trọng giải quyết theo nguyên tắc tự lập, các địa phương tự đào tạo lấy y tá và cứu thương”. Việc điều trị thương binh bệnh binh ở các đơn vị phụ thuộc nhiều vào khả năng cung cấp của trên kết hợp với khai thác tại chỗ như nhờ dân mua (kể cả mua của địch), bào chế sản xuất tại chỗ. Trước Chiến dịch, các trung đoàn đã kịp bổ sung thêm lực lượng quân y, ban quân y được biên chế bác sĩ hoặc y sĩ phụ trách. Nhiều đơn vị tổ chức các “ban quân y lưu động” bố trí gần mặt trận, có nhiệm vụ cấp cứu thương binh bệnh binh trên các hướng. Tuyến sau có quân y viện của khu và các bệnh viện của tỉnh. Ủy ban kháng chiến hành chính, các đoàn thể địa phương trong khu vực đã huy động và trực tiếp chỉ đạo dân công xây dựng lán trại cho các trạm quân y, chăm sóc, nuôi dưỡng thương binh bệnh binh. Công tác chuyển thương từ quân y trung đoàn về tuyến sau chủ yếu dựa vào dân công. Thương binh, bệnh binh nhẹ điều trị tại đơn vị, nặng được chuyển lên bệnh xá trung đoàn hoặc gửi vào các bệnh viện dân y. Nhiều trường hợp thương binh được gửi nhân dân chăm sóc điều trị.

Đến ngày 19/12/1947, do bị các lực lượng vũ trang của ta chặn đánh khắp nơi và bị tổn thất nặng nề, đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc. Đây là chiến dịch đầu tiên giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Pháp.

Trong chiến dịch này, về cơ bản, cơ quan, cơ sở hậu cần được bảo vệ an toàn. Mặc dù vừa hoàn thành cuộc tổng di chuyển nhưng các cơ sở hậu cần kỹ thuật đã nhanh chóng ổn định tổ chức, bước ngay vào bảo đảm cho Chiến dịch, đáp ứng được phần lớn các yêu cầu chiến đấu. Hậu cần - kỹ thuật đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của căn cứ địa kháng chiến, hình thành thế trận rộng khắp, tập trung bảo đảm cho hướng chủ yếu, địa bàn quan trọng, góp phần quan trọng vào chiến thắng của toàn Chiến dịch. Đồng bào các dân tộc Việt Bắc dưới sự lãnh đạo của Ủy ban kháng chiến hành chính các địa phương đã hết lòng giúp đỡ kháng chiến. Nhân dân tận tình ủng hộ tiếp tế cho bộ đội và dân quân tham gia đánh địch. Cùng với sự trưởng thành của lực lượng vũ trang, các ngành Quân nhu, Quân y, Quân giới đã được xây dựng thành hệ thống tổ chức, cung cấp tiếp tế được một phần lương thực, vũ khí, thuốc men cho bộ đội. Hậu cần quân đội đã kết hợp chặt chẽ với các địa phương nên đã giải quyết cơ bản vấn đề ăn, mặc, cứu chữa thương binh, bệnh binh, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu.

Qua cuộc đọ sức lớn đầu tiên, quyết liệt với kẻ thù lần này, lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc trong Chiến khu bước đầu rút được nhiều kinh nghiệm quý báu, trưởng thành về mọi mặt. Đó là kinh nghiệm tổ chức, chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu, việc huy động sức mạnh toàn dân chiến thắng kẻ thù; là kinh nghiệm chiến đấu, cách đánh thắng được một đội quân đông đảo, thiện chiến, có trang bị hiện đại; kinh nghiệm về hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng; về thông tin, trinh sát, nắm địch. Công tác hậu cần phục vụ cho chiến dịch đã có bước phát triển tiến bộ cả về công tác tổ chức và công tác bảo đảm. Ta đã phối, kết hợp được các cấp các ngành ở các địa phương, phát huy được sức mạnh hậu cần nhân dân đáp ứng yêu cầu cơ động chiến đấu của bộ đội, bảo đảm cho các lực lượng đánh địch rộng khắp.

Thắng lợi của Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947 đã củng cố mạnh mẽ ý chí chiến đấu, củng cố niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến cho quân và dân ta, giải quyết tư tưởng sợ địch và hoài nghi sức mạnh của quần chúng, giải quyết một bước tư tưởng chủ quan, khinh địch, quyết chí, bền gan, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.

Đại tá, PGS,TS DƯƠNG HỒNG ANH (Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)