Nhận thức rõ vai trò của công tác NCKH và SKCTKT, Cục Quân nhu luôn quán triệt sâu sắc, triển khai hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên. Đặc biệt là Nghị quyết số 791-NQ/QUTW ngày 30/12/2012 của Quân ủy Trung ương và Kế hoạch số 526/KH-HC ngày 20/6/2013 của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (TCHC) về công tác khoa học, công nghệ và môi trường. Chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng ủy, Chỉ huy TCHC xây dựng kế hoạch, chương trình hành động sát với chức năng, nhiệm vụ đơn vị, xác định nội dung trọng tâm, trọng điểm, tập trung đột phá bằng các nội dung, chỉ tiêu cụ thể, giải pháp thiết thực và triển khai các hoạt động NCKH, SKCTKT trong toàn ngành Quân nhu.

leftcenterrightdel
Đồng chí Thiếu tướng Lê Hồng Dũng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiểm tra sản phẩm bếp dầu K18 do Công ty Cổ phần 22 sản xuất. Ảnh: Đình Thảo. 

Về công tác quản lý NCKH, Cục Quân nhu đã chỉ đạo cơ quan, đơn vị tập trung nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, tạo ra các sản phẩm quân nhu chất lượng tốt, phù hợp với khả năng tạo nguồn nguyên liệu và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, bảo đảm cho bộ đội, đáp ứng yêu cầu huấn luyện, SSCĐ trong điều kiện tác chiến mới. Trong giai đoạn 2015 - 2020, Cục Quân nhu đã tham mưu, đề xuất với Thủ trưởng Bộ Quốc phòng (BQP), TCHC triển khai nghiên cứu và nghiệm thu 04 đề tài khoa học và công nghệ cấp BQP và 30 đề tài cấp cơ sở. Điển hình là: Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất khẩu phần ăn chế biến sẵn phục vụ bộ đội” đã tạo hướng sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn trong nước, có nguồn gốc tự nhiên, giá thành hợp lý, đa dạng hóa sản phẩm về khẩu phần ăn chế biến sẵn, giảm thời gian phục vụ ăn uống và khối lượng vật chất hậu cần mang theo bộ đội. Đề tài “Nghiên cứu thiết kế, chế thử xe bếp tự hành nấu ăn cho tiểu đoàn và tương đương trong dã ngoại và tác chiến” có ý nghĩa quan trọng đối với quân sự - quốc phòng về công tác bảo đảm hậu cần (BĐHC) trong điều kiện tác chiến; giảm khả năng mang vác của bộ đội, có thể nấu được các món ăn truyền thống của người Việt Nam trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết phức tạp, tác chiến. Thông qua nhiều lần thử nghiệm nấu ăn và diễn tập tại một số đơn vị cho thấy, chất lượng sản phẩm có khả năng vượt trội so với các loại xe bếp KP-125 của Nga và QN-24 thuộc Đề tài KCB02. Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ, vật liệu mới giảm nhẹ khối lượng vật chất quân nhu mang theo của bộ đội” tạo ra các sản phẩm phong phú, đa dạng về chủng loại có ý nghĩa đối với quân sự - quốc phòng và công tác BĐHC trong điều kiện tác chiến; giảm khối lượng mang vác, cơ động nhanh trong hoạt động dã ngoại ở địa hình phức tạp, vượt sông... Thông qua nhiều lần thử nghiệm tại một số đơn vị (gồm: Quân khu 1, 2, 5, 9; Quân đoàn 1, 2...) cho thấy, chất lượng sản phẩm có khả năng vượt trội so với sản phẩm hiện hành. Đề tài “Hoàn thiện thiết kế, công nghệ và chế tạo một số loại bếp nấu dùng trong nhà ăn quân đội” đã hoàn thiện thiết kế, chế tạo hệ thống các loại bếp nấu phù hợp với nhà ăn tập thể Quân đội trong điều kiện tĩnh tại, phù hợp quân số của các loại hình đơn vị, sử dụng chất đốt phù hợp, tiết kiệm dễ khai thác, thời gian đun nấu nhanh, thao tác thuận tiện, có thể chế biến các món ăn thông dụng; công nghệ chế tạo phù hợp với trình độ trong nước, sử dụng vật liệu sẵn có, độ bền cao, chịu được sự tác động của môi trường; đảm bảo an toàn khi sử dụng, an toàn vệ sinh thực phẩm, thân thiện với môi trường. Cả 04 đề tài trên đã được Hội đồng đánh giá, nghiệm thu cơ sở xếp loại Xuất sắc, trong đó 03 đề tài được Cục Khoa học Quân sự quyết định công nhận kết quả đánh giá, nghiệm thu Xuất sắc.

Các đề tài cấp cơ sở được triển khai đúng tiến độ; tập trung nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ để xây dựng quy trình sản xuất tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến những sản phẩm đã có nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng yêu cầu hoạt động, huấn luyện và tác chiến của bộ đội. Trong đó tập trung vào các lĩnh vực: Cải tiến trang bị nhà ăn, nhà bếp; các sản phẩm hàng quân trang (cải tiến trang phục dã chiến, các mặt hàng kim khí ngành quân trang...); các chế phẩm sinh học xử lý chất thải tạo nguồn phân hữu cơ cho sản xuất; ứng dụng chế phẩm sinh học vào chế biến thức ăn cho lợn nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi; phương pháp kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm...

Kế thừa kinh nghiệm NCKH của các thế hệ trước, đội ngũ cán bộ nghiên cứu viên trẻ của Viện Nghiên cứu Quân nhu còn tích cực tham gia Giải thưởng “Tuổi trẻ sáng tạo” trong Quân đội và đạt nhiều thành tích cao, như: Đề tài “Nghiên cứu, thiết kế mẫu giày vải cao cổ dùng cho hạ sĩ quan, binh sĩ” đạt giải Nhất (năm 2019); đề tài “Nghiên cứu, thiết kế chế thử ba lô trang bị cho bộ đội” đạt giải Nhì (năm 2018)...

Phong trào NCKH, SKCTKT không chỉ được thực hiện ở cơ quan nghiên cứu (Viện Nghiên cứu Quân nhu) mà còn được lan tỏa rộng khắp cơ quan, đơn vị cơ sở Cục Quân nhu và toàn ngành Quân nhu. Điển hình như các đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải chăn nuôi lợn bằng chế phẩm sinh học tạo nguồn phân hữu cơ cho sản xuất rau ở các đơn vị Quân đội”; “Nghiên cứu khảo sát và đề xuất phương án xây dựng mô hình vườn cây ăn quả tập trung cấp trung đoàn và lữ đoàn” do Phòng Sản xuất thực hiện; đề tài “Nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế, kỹ thuật, bốc xếp hàng hóa tại kho quân nhu chiến lược” do Kho 205 (Cục Quân nhu) thực hiện.

Tại các đơn vị trong toàn quân, ngành Quân nhu tích cực tham gia phong trào SKCTKT, góp phần giữ tốt, dùng bền trang bị vật chất quân nhu, với hàng trăm sáng kiến tham gia hội thao, điển hình là: Mô hình huấn luyện bếp Hoàng Cầm cấp 2 (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ninh, Quân khu 3); Mô hình bếp lò hơi cơ khí (Trường quân sự Quân khu 3); Giá chia thức ăn lắp ghép sử dụng trong hành quân dã ngoại (Trường Cao đẳng Trinh sát, Tổng cục 2); sáng kến: "Phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý bếp ăn Quân đội" của Ban Chỉ huy Quân sự huyện Hưng Hà - BCHQS tỉnh Thái Bình...

Để bảo đảm đủ nguồn thực phẩm phục vụ nuôi dưỡng bộ đội thường xuyên, ngành Quân nhu đã có nhiều sáng kiến trong việc lựa chọn con giống, cây trồng, cơ cấu hợp lý, phù hợp với khí hậu thời tiết từng vùng miền bảo đảm đủ định lượng thịt, cá, rau trong bữa ăn cho bộ đội, nhất là các đơn vị đóng quân trên địa bàn miền núi, hải đảo, điều kiện tăng gia sản xuất (TGSX) gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, công tác NCKH, SKCTKT thời gian qua cũng còn một số hạn chế là: Kinh phí đầu tư cho NCKH, SKCTKT còn hạn hẹp; chưa có đề tài về nghiên cứu lý luận công tác quân nhu đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay; tại đơn vị cơ sở chưa có nhiều đề tài sáng kiến quân nhu, hiện nay chủ yếu là cải tiến kỹ thuật; các SKCTKT của đơn vị cơ sở chủ yếu tập trung vào công tác nuôi dưỡng, chưa có nhiều đề tài về công tác quân trang, TGSX...

Thời gian tới, để đẩy mạnh công tác NCKH, SKCTKT cần tập trung vào các nội dung, biện pháp chính sau:

Tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng nhằm động viên, khuyến khích nâng cao chất lượng đề tài NCKH, SKCTKT tại đơn vị cơ sở. Tích cực tuyên truyền về phong trào NCKH, SKCTKT ở các loại hình đơn vị trong toàn quân. Từng bước đề xuất bảo đảm kinh phí tương xứng cho các đề tài NCKH, SKCTKT có giá trị ứng dụng cao. Tăng cường hợp tác khoa học với các cơ sở, trung tâm nghiên cứu trong và ngoài Quân đội. Tích cực xây dựng nguồn lực, có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu trong lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế công nghệ, phòng thí nghiệm... để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ lâu dài.

Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào cải tiến, đổi mới trang bị quân nhu theo hướng nâng cao hơn nữa chất lượng các sản phẩm quân nhu, đáp ứng yêu cầu bền, đẹp, gọn nhẹ, tiện ích, phù hợp với khả năng ngân sách bảo đảm. Ưu tiên công tác nghiên cứu SKCTKT trong lĩnh vực bảo đảm ăn, mặc phục vụ xây dựng chính quy, SSCĐ và nâng cao chất lượng công tác quản lý Ngành. Chú trọng nghiên cứu các sản phẩm cải tiến trang bị nhà ăn, nhà bếp; nhu cầu năng lượng và xây dựng khẩu phần ăn; thiết lập chế độ dinh dưỡng hợp lý cho các đối tượng trong Quân đội. Nghiên cứu xây dựng quy chuẩn quân trang Quân đội Nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0. Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin vào các hoạt động NCKH, SKCTKT ngành Quân nhu cũng như các hoạt động nghiệp vụ, nhất là công tác chỉ huy, chỉ đạo, quản lý quân nhu.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực tăng gia sản xuất theo hướng an toàn sinh học. Trong đó, tập trung ứng dụng khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng kháng bệnh; thích ứng sự biến đổi của khí hậu, thời tiết. Lựa chọn các loại giống mới (cây ăn quả, rau xanh, gia súc, gia cầm, thủy hải sản...) có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chịu hạn, chịu mặn, phù hợp với điều kiện tự nhiên cung cấp cho các đơn vị đóng quân trên vùng núi, hải đảo. Chú trọng nghiên cứu, lai tạo các giống rau trái vụ có năng suất cao; gắn mô hình TGSX với xây dựng đơn vị chính quy: “xanh - sạch - đẹp” và các dự án TGSX trong căn cứ hậu cần; ứng dụng khoa học kỹ thuật mới xử lý hiệu quả môi trường trong TGSX.

Đẩy mạnh NCKH và SKCTKT ngành Quân nhu là vấn đề cần thiết trong hoạt động bảo đảm quân nhu cho bộ đội. Rất mong có sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của chỉ huy và cơ quan nghiệp vụ các cấp để ngày càng nâng cao chất lượng công tác NCKH, SKCTKT, tạo ra nhiều sản phẩm quân nhu có giá trị thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ trong tình hình mới.

Đại tá PHẠM VĂN KHAO, Trưởng phòng Tham mưu kế hoạch/CQN