Bệnh được phát hiện từ rất lâu và gây ra các vụ dịch lớn làm nhiều người tử vong. Đến năm 1923, vắc-xin giải độc tố BH ra đời và đưa vào sử dụng, tưởng như đã thanh toán được bệnh trên toàn thế giới. Tuy nhiên, gần đây việc tiêm chủng vắc-xin BH không được đầy đủ, nên bệnh đã phát triển trở lại và bùng nổ thành dịch lớn ở một số nước.

Ở Việt Nam, từ khi đưa vắc-xin BH vào Chương trình tiêm chủng mở rộng (1985), tỷ lệ mắc BH đã giảm từ 3,95/100.000 dân xuống dưới 0,01/100.000 dân (năm 2012), chỉ gặp các ca tản phát hoặc ổ bệnh nhỏ ở vùng sâu, vùng xa, nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp. Mấy năm gần đây, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 20-30 ca bệnh, chủ yếu ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đầu năm 2020 đến nay, tại 4 tỉnh Tây Nguyên (Đắc Nông, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc) xuất hiện các vụ dịch BH với hơn 100 ca mắc và 3 ca tử vong. TP Hồ Chí Minh ghi nhận 01 ca bệnh, không có tử vong.

Đường lây truyền

Bệnh BH lây truyền qua đường hô hấp khi tiếp xúc với người bệnh hoặc người lành mang vi khuẩn BH hoặc lây qua đường tiếp xúc với những đồ vật có dính chất tiết của người bị nhiễm vi khuẩn. Sữa mẹ cũng có thể là đường lây truyền bệnh. Thời gian ủ bệnh từ 2-5 ngày (có thể đến 7 ngày). Người bệnh đào thải vi khuẩn từ thời kỳ khởi phát, có thể ngay từ cuối thời kỳ ủ bệnh, kéo dài khoảng 2 tuần (hoặc ngắn hơn), ít khi trên 4 tuần. Người lành mang vi khuẩn BH từ vài ngày đến 3-4 tuần, rất hiếm trường hợp kéo dài trên 6 tháng. Mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc bệnh nếu chưa có miễn dịch đặc hiệu. Miễn dịch tạo thành sau khi tiêm vắc-xin sẽ bảo vệ được cơ thể đối với bệnh BH, nhưng không ngăn ngừa được sự nhiễm khuẩn tại vùng mũi họng.

leftcenterrightdel
Kiểm tra công tác phòng, chống bệnh bạch hầu tại xã Quảng Hòa, huyện Đắc Glong (Đắc Nông). Ảnh: qdnd.vn

Các dấu hiệu lâm sàng của bệnh

Bệnh BH mũi (khoảng 4-5%) gây sổ mũi, chảy mũi ra chất mủ nhầy, đôi khi có lẫn máu. Khi khám, thầy thuốc có thể thấy màng trắng ở vách ngăn mũi. Thể bệnh này thường nhẹ do độc tố vi khuẩn ít thâm nhập vào máu.

Bệnh BH họng (khoảng 70%) gây mệt mỏi, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhẹ, nuốt đau, nổi hạch ở dưới hàm làm sưng tấy vùng cổ; nếu nhiễm độc nặng, bệnh nhân sẽ phờ phạc, xanh tái, mạch nhanh, đờ đẫn, hôn mê. Khám thấy có giả mạc màu trắng ngà (hoặc màu xám) dính chặt vào xung quanh tổ chức viêm, nếu bóc ra sẽ bị chảy máu. Cho giả mạc vào cốc nước dù có khuấy mạnh cũng không tan (giả mạc mủ sẽ bị hòa tan hoàn toàn). Vùng niêm mạc xung quanh giả mạc bị xung huyết. Thường thể bệnh này các độc tố ngấm vào máu nhiều và có thể gây tình trạng nhiễm độc toàn thân, nếu không được điều trị tích cực có thể tử vong trong vòng 6-10 ngày.

BH thanh quản (khoảng 20-30%) là thể bệnh nặng, tiến triển nhanh và rất nguy hiểm. Bệnh nhân thường có dấu hiệu sốt, khàn tiếng, ho ông ổng, có các giả mạc tại ngay thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống; nếu không được xử trí kịp thời sẽ gây tắc đường thở dẫn đến suy hô hấp và tử vong nhanh chóng. Bên cạnh đó, ngoại độc tố BH làm tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên, thần kinh cảm giác và/hoặc viêm cơ tim, tỷ lệ tử vong khoảng 5%-10%.

BH các vị trí khác (khoảng 2-3%) thường rất hiếm gặp và nhẹ, có thể gây loét ở da, niêm mạc như niêm mạc mắt, âm đạo hay ống tai.

Diễn biến của bệnh, chẩn đoán và điều trị

BH ác tính có tỷ lệ tử vong cao, nhưng có thể chữa khỏi khi được điều trị sớm và tích cực bằng huyết thanh kháng BH. Có 2 loại BH ác tính gồm: BH ác tính tiên phát, xuất hiện vào ngày thứ nhất hoặc ngày thứ 2 của bệnh. BH ác tính thứ phát, xuất hiện từ ngày 10-15 của bệnh (có thể chậm hơn). Bệnh có thể tiến triển xấu dưới các hình thái như: Thể tối cấp gây tử vong sau 24-36 giờ với các triệu chứng khó thở, tiêu chảy, xuất huyết, trụy mạch. Thể tiến triển bán cấp với hội chứng ác tính sớm, bệnh lúc đầu thuyên giảm, da xanh tái, tim đập nhanh; đến ngày thứ 5-6, xuất hiện liệt màn hầu; ngày thứ 10-15, xuất hiện triệu chứng xuất huyết, nôn nhiều, viêm cơ tim; bệnh nhân tử vong đột ngột do trụy mạch không hồi phục.

Chẩn đoán bằng phân lập vi khuẩn BH từ mẫu bệnh phẩm (chất dịch nhầy ở thành họng hoặc giả mạc tại chỗ viêm), làm tiêu bản nhuộm Gram, soi kính hiển vi: trực khuẩn bắt màu Gram (+), hai đầu to. Hiện nay có thể sử dụng kỹ thuật PCR để chẩn đoán.

Điều trị: Tùy theo tình trạng bệnh mà chỉ định tiêm huyết thanh kháng độc tố BH từ 20.000-100.000 đơn vị. Chú ý, cần thử phản ứng huyết thanh trước khi tiêm. Điều trị đặc hiệu bằng kháng sinh: tiêm Penicillin G liều 25.000-50.000 đơn vị/kg thể trọng/ngày cho trẻ em và 1,2 triệu đơn vị/kg thể trọng/ngày cho người lớn, chia làm 2 lần/ngày. Nếu bệnh nhân dị ứng với Penicillin thì thay bằng Erythromycin với liều 40-50 mg/kg thể trọng/ngày, liều tối đa 2 gam/ngày trong 7 ngày liền. Để điều trị dự phòng cho người lành mang vi khuẩn, tiêm một liều đơn Penicillin G Benzathin 600.000 đơn vị cho trẻ dưới 6 tuổi và 1,2 triệu đơn vị cho trẻ từ 6 tuổi trở lên hoặc uống Erythromycin với liều 40 mg/kg thể trọng/ngày cho trẻ em và1g/ngày cho người lớn trong vòng 7-10 ngày.

Các biện pháp phòng, chống dịch

Tiêm vắc-xin BH đầy đủ theo Chương trình tiêm chủng mở rộng là biện pháp chủ yếu và quan trọng nhất để phòng bệnh. Sau khoảng 5 năm, nên tiến hành đánh giá tiêm chủng một lần. Bên cạnh đó, cần mở rộng tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, cung cấp những thông tin cần thiết về bệnh để mọi người phát hiện sớm bệnh, cách ly, phòng bệnh và cho trẻ đi tiêm vắc-xin BH đầy đủ.

Các đơn vị quân đội, nhất là đơn vị đóng quân tại địa phương có dịch BH (hiện nay là các tỉnh miền núi khu vực miền Trung - Tây Nguyên) cần chú ý phát hiện sớm ca bệnh, cách ly kịp thời, điều trị triệt để, tiến hành các biện pháp phòng chống dịch. Doanh trại phải được vệ sinh sạch sẽ, thông thoáng, có đủ ánh sáng. định kỳ phun khử trùng, khử khuẩn bề mặt bằng Cloramin B. Quân nhân hạn chế ra ngoài doanh trại, hạn chế đến chỗ tập trung đông người nếu không cần thiết.

BH là bệnh bắt buộc phải khai báo. Tất cả bệnh nhân viêm họng giả mạc nghi BH phải được vào viện để cách ly nghiêm ngặt cho đến khi có kết quả xét nghiệm vi khuẩn 2 lần âm tính (cách nhau 24 giờ và không quá 24 giờ sau khi uống kháng sinh). Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm thì phải cách ly bệnh nhân sau 14 ngày điều trị kháng sinh. Những người tiếp xúc gần với bệnh nhân phải được xét nghiệm vi khuẩn và theo dõi trong vòng 7 ngày. Tiêm 1 liều đơn Penicillin hoặc uống Erythromycin (hoặc Azithromycin) từ 7-10 ngày cho những người đã bị phơi nhiễm với BH, bất kể tình trạng miễn dịch như thế nào. Nếu xét nghiệm vi khuẩn dương tính thì phải được điều trị kháng sinh và được cách ly cho đến khi có kết quả xét nghiệm vi khuẩn âm tính. Những người tiếp xúc đã được gây miễn dịch trước đây thì nên tiêm nhắc lại một liều giải độc tố BH nếu có điều kiện.

Đồng thời, các cơ quan, đơn vị có bệnh nhân BH phải được cách ly nghiêm ngặt và giám sát, theo dõi trong vòng 14 ngày kể từ khi phát hiện ca bệnh cuối cùng. Tiến hành khử trùng, khử khuẩn phòng ở, phòng làm việc của bệnh nhân, các đồ vật có liên quan tới bệnh nhân. Người tiếp xúc gần bệnh nhân phải được xét nghiệm và điều trị dự phòng bằng kháng sinh. Mọi quân nhân phải thực hiện các biện pháp
tự phòng bệnh như đeo khẩu trang nơi công cộng, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, súc họng nước muối 2 lần/ngày, phơi quân tư trang dưới ánh nắng ít nhất 1 lần/tuần…

Đại tá, TS NGUYỄN CHÍNH PHONG, Phòng Vệ sinh phòng dịch, Cục Quân y