Năm 2000, Đỗ Thanh Hải nhập ngũ vào Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 9, Sư đoàn 8, Quân khu 9. Năm 2003, Trung đoàn quyết định thành lập khu TGSX tập trung cấp trung đoàn. Thấy Hải đã tốt nghiệp loại giỏi về nuôi trồng thủy sản, cấp trên điều động anh ra phụ trách khu TGSX tập trung của Trung đoàn và anh gắn bó với cây trồng, vật nuôi đến tận bây giờ.

leftcenterrightdel

Nhận nhiệm vụ, Hải đề xuất và được chỉ huy đơn vị cho phép lựa chọn một số chiến sĩ, xuất thân trong gia đình làm nghề nuôi cá, nuôi heo, có đức tính cần cù, chịu khó cùng ra gây dựng khu TGSX. Đang ở trong doanh trại, điều kiện sinh hoạt đầy đủ, nhìn thấy những bãi sình lầy, mọc đầy cỏ dại, một số người tỏ vẻ ái ngại. Cùng với động viên anh em, Hải và cơ quan hậu cần tiến hành quy hoạch tổng thể mặt bằng khu TGSX. Ngoài số ao hiện có, những thửa đất trũng, gần sông được bố trí làm ao cá; các khu đất cao, dễ thoát nước để trồng rau, xây dựng chuồng nuôi lợn. Hệ thống mương dẫn nước từ sông về và thoát nước ra được bố trí bài bản, khoa học. Quy hoạch được chỉ huy Trung đoàn thông qua, cả đơn vị tranh thủ ngày nghỉ đào ao, đắp đập, kè bờ, làm kênh mương dẫn nước. Sau nhiều tháng lao động vất vả, khu TGSX đã hoàn thành. Hải lại cùng anh em lấy đất bùn ao phơi khô kết hợp với phân chuồng, vôi bột ủ hoai mục, rải lên vườn tạo độ màu cho đất trồng rau;  tận dụng cột bê tông làm giàn trồng mướp trên mặt ao, tổ chức trồng đủ đủ, chuối quanh bờ.

leftcenterrightdel
 Ao nuôi cá của Trung đoàn.

Nhờ kiến thức học tại trường và tích cực học hỏi kinh nghiệm, năm 2003, Hải tổ chức ươm thành công một số loại cá bột cung cấp cho ao nuôi tập trung. Từ thành công này, Hải mở rộng quy mô lên 4 ao ương cá bột, cung cấp cho toàn bộ các đơn vị trong Trung đoàn, không phải mua ngoài thị trường. Cá giống do Hải cung cấp khỏe, sống tốt nên các đơn vị rất thích.

Chia sẻ về những kinh nghiệm ương cá giống, Hải say sưa kể: Cá bột khi mua về, mới nở được 9-12 giờ, chỉ bé như sợi tóc, 2 cốc uống nước là đủ đựng 2 triệu con. Để ương thành cá giống cung cấp cho đơn vị đòi hỏi một quy trình phức tạp. Ao ương cá phải có độ sâu từ 1,2-1,5m, đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống cấp thoát nước. Trước khi thả cá phải vét bùn, không để bùn đáy quá dày. Bón vôi khắp ao, với liều lượng 10-15 kg/100m2 để diệt một số vi khuẩn gây bệnh cho cá. Đào rãnh xung quanh ao và bón vôi trên bờ ao để tránh chất bẩn hay phèn bị rửa trôi xuống mỗi khi trời mưa. Sau khi phơi đáy ao từ 3-5 ngày, lấy nước vào ao ương. Nước phải được lọc thật kỹ qua lưới mịn, có thể thêm trấu vào túi lưới để không cho cá tạp, cá dữ và các sinh vật khác vào ao ương ăn hại cá và cạnh tranh thức ăn của cá. Khi độ pH của nước đạt ngưỡng 7-8 là có thể thả cá. Cá bột phải được thả trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để những loại địch hại (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gậy, bắp cày…) chưa kịp phát triển. Nên thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Lúc thả, ngâm túi cá trong nước khoảng 10-15 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong và ngoài bao, sau đó mở miệng bao cho cá ra từ từ, tránh cá bị sốc nhiệt. Trong 4-5 ngày đầu, cá bột chủ yếu sống chìm dưới đáy ao, nếu quan sát thấy hiện tượng cá lồng lên, nhao trên mặt nước, chứng tỏ nước thiếu oxi, phải sục khí ngay hoặc cho thuốc tạo khí oxizel xuống ao. Trong khoảng 8-10 ngày đầu, thức ăn của cá là lòng đỏ trứng gà luộc chín, bóp nhuyễn, hòa tan trong nước cùng bột đậu nành. Từ ngày thứ 11-20, cho ăn bột cá, cám và bột đậu nành đã trộn đều và rải khắp mặt ao. Từ ngày thứ 21 trở đi đến lúc đạt tiêu chuẩn cá giống (cỡ 1-1,2 cm, trọng lượng đạt 75-120 con/kg), chủ yếu cho ăn bột cá trộn đều với cám. Có thể bổ sung thêm các loại thuốc bổ và kháng sinh tăng sức đề kháng cho cá. Hằng ngày, trước khi cho ăn phải vệ sinh sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn còn lại để tăng giảm hợp lý, tránh tình trạng dư thừa, làm thối nước hoặc thiếu thức ăn cá sẽ sát hại lẫn nhau. Ương khoảng 1,5-2 tháng, dùng lưới mắt nhỏ kéo cá dồn lại một góc ao, thu hoạch và cấp cho đơn vị vào sáng sớm hoặc chiều mát.

Ngoài việc quản lý, trực tiếp cùng anh em lao động, Hải còn tranh thủ xuống các đơn vị nắm tình hình, hướng dẫn bộ đội kỹ thuật, nhất là phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi, cây trồng. Nhờ đó, phong trào TGSX trong toàn Trung đoàn ngày càng phát triển. Nhiều năm trở lại đây, không chỉ tự túc được 100% nhu cầu rau xanh, thịt, cá; tự sản xuất cá giống, lợn giống, Trung đoàn còn thừa rau để ủng hộ các bệnh viện trên địa bàn đóng quân. Riêng năm 2016, tổng giá trị thu từ TGSX của toàn Trung đoàn đạt trên 12 tỷ đồng. Với những kết quả đạt được, Trung đoàn 9 trở thành đơn vị dẫn đầu phong trào TGSX của Quân khu 9. Trong thành tích chung đó, có công lao, đóng góp không nhỏ của chàng kỹ sư cá giống Đỗ Thanh Hải.

Ngoài 4 ao ương cá bột rộng 6.000 m2, có hệ thống bơm xả, thoát nước khép kín, khu TGSX do Hải quản lý còn có 10 ao thả cá thịt, rộng 29.500 m2; 7000 m2 vườn rau; 500 con lợn thịt, 80 con lợn rừng, 14 con lợn nái, 70 con bò, có 20 bò nái. 5 năm qua, thu từ khu TGSX tập trung đạt gần 18 tỷ đồng, lãi 4,8 tỷ đồng.   

Bài, ảnh: THÀNH LONG