Toàn Quân chủng Hải quân lúc đó có 2 căn cứ (được thành lập từ năm 1961): Căn cứ số 1 ở Quảng Ninh, phụ trách vùng biển từ biên giới Việt - Trung đến đông Cửa Hội và Căn cứ số 2 ở Vinh, phụ trách từ đông Cửa Hội đến giới tuyến quân sự tạm thời. Trực thuộc từng căn cứ có các lực lượng như: Đoàn tàu, quân cảng, pháo bờ biển, trạm ra-đa, trạm thông tin, đài quan sát. Mỗi căn cứ biên chế 1 chủ nhiệm quân y, 1 bệnh xá từ 15 - 20 giường. Ở mỗi cảng đều có tổ chức cảng vụ. Quân y cảng vụ có nhiệm vụ: Tổ chức cứu chữa tại cảng; huấn luyện kỹ thuật cấp cứu; tổ chức bảo đảm quân ycho các tàu hoạt động và sẵn sàng chiến đấu; hướng dẫn, tổ chức thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng dịch trên tàu, cầu cảng, nơi ăn ở; kiểm tra vệ sinh nguồn nước, lương thực thực phẩm trước khi đưa xuống tàu; cấp phát thuốc, y cụ, cơ số thuốc cho các tàu đi hoạt động.

Do chưa đủ khả năng tự cứu chữa, vận chuyển, điều trị độc lập, vì vậy Quân y Hải quân đã phối hợp với các quân khu, các tàu đánh cá, các hợp tác xã, các bệnh viện, bệnh xá ven biển để tổ chức việc cứu vớt, cứu chữa thương binh, bệnh binh khi cần thiết. Mặt khác, do chưa có xuồng cứu sinh và máy bay lên thẳng để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, cứu vớt, nên khi có thương binh thì từng tàu phải tự tổ chức cứu chữa là chính. Quân y Quân chủng và các đơn vị Hải quân đã tập trung huấn luyện cho bộ đội 5 kỹ thuật cấp cứu, đồng thời trang bị đủ cơ số bông băng, thuốc cấp cứu cho từng vị trí chiến đấu trên tàu. Bên cạnh đó, còn tổ chức mạng thông tin liên lạc vững chắc để nắm tình hình thương vong, hiệp đồng cấp cứu và vận chuyển lên bờ; giao các tổ cấp cứu của cảng vụ bệnh xá sẵn sàng cơ động đi tiếp nhận thương binh trên biển, chuyển thương binh về các vị trí quy định.

Đầu năm 1964, qua các nguồn tin và các biểu hiện của địch có thể sử dụng không quân, hải quân mở rộng đánh phá ra miền Bắc; chấp hành mệnh lệnh của trên, ngày 26/3/1964, Bộ Tổng Tham mưu ra mệnh lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho toàn bộ lực lượng vũ trang miền Bắc. Các đơn vị Hải quân lập tức chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Do có dự báo chính xác và chuẩn bị trước, Quân chủng Hải quân đã kịp thời ngăn chặn ý đồ của địch, làm nên chiến thắng trận đầu trong trận chiến đối đầu với Hải quân Mỹ. Trong trận này, các lực lượng - quân y Quân chủng đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng quân dân y tổ chức cứu chữa, vận chuyển kịp thời thương binh, hạn chế tối đa thương vong.

Ngày 02/8/1964, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc và đánh trả những hành động xâm lược, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân dùng 3 tàu phóng lôi đánh đuổi tàu Ma-đốc của Mỹ. Tàu Ma-đốc bị thương, trên đường tháo chạy đã bắn vào đội hình của ta. Sau đó, máy bay Mỹ yểm trợ tiếp tục bắn phá các tàu ta, làm 4 chiến sĩ hi sinh và 5 chiến sĩ bị thương. Thương binh được chuyển về Bệnh xá Trung đoàn 57 ở Sầm Sơn và Bệnh viện huyện Hậu Lộc để xử trí bước đầu, rồi chuyển về Bệnh viện tỉnh Thanh Hóa, sau chuyển tiếp về Viện Quân y 5 (Quân khu 3) ở Ninh Bình.

Ngày 05/8/1964, máy bay Mỹ tập kích vào hầu hết các cảng của hải quân ta ở Cửa Hội, sông Gianh, Bãi Cháy, Lạch Trường…, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân điều 3 tàu tuần tiễu 130, 132, 146 của Khu tuần phòng 1, cùng 3 tàu phóng lôi của Trung đoàn 172 vào vùng biển Thanh Hóa làm nhiệm vụ. Trên các tàu có đủ cơ số chiến thương cho các vị trí chiến đấu, dự trữ thêm 30 cuộn băng cá nhân. Từng tàu đã hợp đồng với các điểm cứu chữa trên bờ. Một đội phẫu thuật của Viện Quân y 5 được cử đến Lạch Trường tham gia cứu chữa tại chỗ cho thương binh.

Chiều hôm đó, máy bay địch tập kích các tàu tuần tiễu 132, 146 đang neo đậu ở Hòn Nẹ, cách bờ khoảng 2 hải lý và tàu 130 đậu ở gần bờ, làm hàng chục chiến sĩ ta thương vong. Thương binh của tàu 130 tự cấp cứu, bơi vào Diêm Phố và được thuyền ngư dân trên đường đánh cá trở về cứu vớt, đưa về chợ Nghề; sau được chuyển bằng ô tô và cáng bộ về Bệnh viện huyện Hậu Lộc. Ở bờ nam, cửa hàng thủy sản huy động 5 thuyền gỗ đánh cá có y tá, y sĩ, bác sĩ đi theo ra cứu vớt thương binh đưa về Trạm xá xã Hòa Lộc ở bờ Bắc. Tại đây, sau khi đã xử trí cấp cứu ban đầu, bổ sung băng bó cho thương binh, các lực lượng quân y và nhân dân khẩn trương chuyển thương binh về Bệnh viện huyện Hậu Lộc, Bệnh viện tỉnh Thanh Hóa, Viện Quân y 5 ở Ninh Bình để điều trị tiếp. Sau khi xử trí ổn định vết thương, toàn bộ thương binh điều trị tại các cơ sở dân y được chuyển về Viện Quân y 5 trong ngày 10/8/1964. Với sự hành động chặt chẽ, kịp thời, toàn bộ thương binh trong trận chiến đấu này khi chuyển về viện Quân y 5 đều được điều trị khỏi; có một thương binh sọ não và một thương binh phổi cần xử trí chuyên khoa đã được chuyển về Viện Quân y 108 trong ngày 06/8/1964.

Những thử thách đầu tiên trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng Không quân và Hải quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc đã giúp Quân y Hải quân tôi luyện thêm bản lĩnh kiên cường, ý chí quyết chiến quyết thắng. Mạng lưới cứu chữa - vận chuyển quân dân y Quân khu 3 - Quân chủng Hải quân - tỉnh Thanh Hóa là mạng lưới y tế đầu tiên phục vụ thương binh trong các sự kiện đầu tháng 8 năm 1964. Đây cũng là sự kiện đặc biệt để chúng ta rút ra những kinh nghiệm về tổ chức cứu chữa, vận chuyển, thực hành kỹ thuật cụ thể ngoại khoa chiến tranh trong chống chiến tranh phá hoại trên miền Bắc nói riêng và trong sự nghiệp xây dựng, phát triển ngành Y tế Việt Nam nói chung.

Phạm Xưởng