Hành quân thần tốc vào Đồng Xoài

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu lệnh cho Quân đoàn 1 di chuyển 1/2 lực lượng vào nam Khu 4 (cũ). Ngày 01/4/1975, toàn bộ lực lượng Quân đoàn (trừ Sư đoàn 308 ở lại bảo vệ miền Bắc) được lệnh hành quân vào Đồng Xoài (Đông Nam bộ) tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Nghiên cứu kỹ các yếu tố, Quân đoàn quyết định tổ chức đội hình hành quân hàng dọc, thành một trục, gồm 3 khối, theo đường tây Trường Sơn. Theo đó, các khối hành quân xuất phát từ Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh), Bãi Hà, Cam Lộ (Quảng Trị) đến Sê Sụ rồi rẽ sang đường số 14 qua Plây-me, Đức Lập vào tập kết ở Đồng Xoài.

Ngoài 986 xe trong biên chế, Quân đoàn được hậu cần chiến lược sử dụng 8 chuyến xe lửa chuyển bộ đội từ nam Thái Nguyên vào Vinh; dùngtàu biểnvận chuyển binh khí kỹ thuật nặng từ Vinh vào Đông Hà và tăng cường 2 trung đoàn vận tải ô tô gồm 1.168 xe (427 xe của Cục Vận tải, 741 xe của Bộ Tư lệnh Trường Sơn). Ngày 02/4/1975, Sở chỉ huyQuân đoàn và Sư đoàn Bộ binh 320B xuất phát từ Vĩnh Linh, Cam Lộ, hành quân theo đường tây Trường Sơn; lực lượng còn lại hành quân vào chiến trường theo 3 khối, xuất phát ngày 08/4/1975 tiến vào Đồng Xoài.

Để đảm bảo sức khỏe cho bộ đội hành quân đường dài, hậu cần Quân đoàn cấp phát 50.000 “suất hành quân”, mỗi suất 50 mặt hàng ở 4 địa điểm: Xuân Mai (Hoà Bình), Ga Gềnh (Ninh Bình), Hà Trung (Thanh Hoá) và Binh trạm 16 (nam Quảng Bình). Lương thực dự trữ 15 ngày (đến ngày 20/4/1975); khi đến khu vực của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, các đơn vị được cấp bổ sung đến ngày 05/5/1975. Về xăng dầu, Quân đoàn chỉ mang theocáctrang thiết bị khí tài gọn nhẹ, dễ cơ động. Các đơn vị chuẩn bị đủ nhiên liệu cho hành quân, chiến đấuvàdự trữ thêm 2-3 cơ số xăng, đi-ê-zen. Trên đường hành quân, Bộ Tư lệnh Trường Sơn cấp thêm 3,6 cơ số. Về quân y, các đơn vị được cấp gần 70 tấn thuốc dự trữ, bảo đảm cứu chữa 10% thương binh khi bước vào chiến dịch. Về đạn, Quân đoàn cấp phát mang theo 0,2-0,3 cơ số đạn bộ binh và 0,1 cơ số đạn pháo, cối (tổng cộng 142 tấn).

Về bảo đảm kỹ thuật xe pháo, Trạm sửa chữa Z8 được phái đi trước; các tổ sửa chữa cơ động đi theo từng khốihành quân kết hợp đơn vị sửa chữa hỏng hóc thông thường. Ở những trọng điểm nhưhai đầu cầu phao Sông Bạc, ngầm Rộng, chân đèo Am Pun... đều bố trí các tổ cứu kéo và thợ sửa chữa cơ động, kịp thời xử trí các tình huống. Các khối trên vừa hành quân, vừa nắm tình hình bảo đảm kỹ thuật cho đội hình hành quân của Quân đoàn.

Để tranh thủ thời gian hành quânvà giữ sức khoẻ bộ đội, hậu cần Quân đoàn tổ chức cho bộ đội ngủ ngay trên xe. Mỗi xe là một phân đội nhỏ và là một bếp ăn. Hai chiến sĩ lái xe thay nhau láitừ 18-20 giờ/ngày. Trên đường hành quân, ngày 07/4/1975, Quân đoàn nhận đượcĐiện số 157/H-TK của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa,

Táo bạo, táo bạo hơn nữa

Tranh thủ từng giờ, từng phút

Xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam

Quyết chiến và quyết thắng”.

Nội dung bức điện là một mệnh lệnh chiến đấu ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ hành quân nhanh hơn nữa ra mặt trận. Tốc độ hành quân của Quân đoàn ngày càng tăng, có ngày đạt hơn 200km.

Ngày 13/4/1975, Sư đoàn Bộ binh 320B và Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn vào đến địa điểm tập kết. Ngày 24/4/1975, sau 15 ngày đêm hành quân vượt qua 1.790 km, toàn Quân đoàn đã tới vị trí tập kết ở Đồng Xoài.Quân số tới đích đạt98,1%; xe các loại 93,3%; pháo mặt đất 89,3%; pháo cao xạ 84,3%; mang theo đội hình 386 tấn đạn (đủ cơ số SSCĐ của bộ binh và cao xạ), trong đó có 0,5 cơ số đạn pháo; xăng dầu, các loại vật chất khác đủ cơ số SSCĐ. Lúc này, các Quân đoàn 2, 3, 4 và Đoàn 232 cũng áp sát Sài Gòn, tạo thành 5 gọng kìm bao vây trung tâm đầu não của địch.

Chuẩn bị hậu cần cho quân đoàn tác chiến

Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong đó hướng Bắc và Tây Bắc là hướng chủ yếu (Tây Bắc là chủ yếu nhất). Quân đoàn 1 (gồm Sư đoàn Bộ binh 312, 320B, được tăng cường Trung đoàn 95/Sư đoàn 325) đảm nhiệm hướng bắc Sài Gòn; có nhiệm vụ đánhchiếm căn cứ Phú Lợi, Bình Dương, Bến Cát, Lai Khê, Tân Uyên, tiêu diệt và ngănchặn không cho Sư đoàn 5ngụy co cụm về Sài Gòn; thọc sâu vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy; Khu binh chủng ngụy ở Gò Vấp và hợp quân ở Dinh Độc Lập. Địch trên hướng này, ngoài Sư đoàn 5 bộ binh, Thiết đoàn 1, Tiểu đoàn 31 biệt động quân, còn có 3.000 quân dù và lính thuỷ đánh bộ, 11 tiểu đoàn địa phương quân, 4.700 cảnh sát các loại..., vì vậy, tác chiến sẽ rất ác liệt.

Để bảo đảm cho tác chiến, hậu cần Quân đoàn 1 kết hợp và dựa vào Đoàn Hậu cần 210/Hậu cần Miền (ở khu vực Suối Nhung), tổ chức bố trí thành 2 cụm: Cụm 1ở phía sau, bố trí ở khu vực Đồng Xoài gần các cơ sở bảo đảm của Đoàn Hậu cần 210, sẵn sàng tách ra một bộ phận cơ động bảo đảm cho Sư đoàn Bộ binh 312 đánh chiếm căn cứ Phú Lợi. Cụm 2 (cơ động) ở phía trước, bố trí ở bắc Bến Bầu, sẵn sàng di chuyển lên Lái Thiêu bảo đảm cho Sư đoàn Bộ binh 320B thọc sâu vào Sài Gòn.

Hậu cần chiến dịch đã giao Đoàn Hậu cần 210 trực tiếp chi viện choQuân đoàn 100 xe vận tải để chở quân; sau đó, tăng cường tiếp 2 tiểu đoàn vận tải để cơ động lực lượng và vận chuyển vật chất. Quân đoàn tập trung chuyển hàng xuống Cụm Hậu cần 2 và các đơn vị; ngày 25/4/1975, hoàn thành tiếp nhận vận chuyển vật chất do Đoàn Hậu cần 210 cấp.

Để bảo đảm cho Sư đoàn Bộ binh 320B làm nhiệm vụ thọc sâu, hậu cần Quân đoàn phối thuộc cho sư đoàn Tiểu đoàn vận tải 61 (do Bộ Tư lệnh Trường Sơn tăng cường); tổ chức 60 xe vận tải chở đạn, xăng dầu, đội điều trị dã chiến… sẵn sàng cơ động cùng đội hình để bảo đảm. Đồng thời chuẩn bị gấp đạn pháo 130mm, Đ74 để Lữ đoàn Pháo binh 45 chi viện cho lực lượng thọc sâu và Sư đoàn Bộ binh 312 tiến công Bến Cát, Phú Lợi bao vây chia cắt Sư đoàn 5 ngụy tại Bình Dương. Đến ngày26/4/1975, hậu cần Quân đoàn đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị.

Bảo đảm cho Quân đoàn đánh chiếm các mục tiêu

17 giờ ngày 26/4/1975, chiến dịch mở màn. Quân đoàn 1vừa tiến công địch ở vòng ngoài, vừa tiến hành thọc sâu. Để bảo đảm đạn pháo cho các trận địa bắn phá hoại và chi viện các đơn vị tiến công, ngày 28/4/1975, hậu cần Quân đoàn và hậu cần chiến dịch gấp rút điều thêm 39 xe chở đạn pháo (19 xe của Quân đoàn và 20 xe của Quân khu 5 do Tổng cục Hậu cần chi viện) vượt cung đến trận địa pháo ở Búng (nam Sông Bé) bổ sung, nâng lượng dự trữ tại chỗ lên 1,8 cơ số, đủ bảo đảm tiến công ngày 29 và 30/4/1975. Đến hết ngày 28/4/1975, Quân đoàn đã bảo đảm được 1.743 tấn vật chất, trong đó có 629 tấn vật chất quân nhu, 791 tấn vũ khí đạn, 310 tấn xăng dầu, 12 tấn vật chất quân y. 

Sau khi Sư đoàn Bộ binh 312 mở đường áp sát căn cứ Phú Lợi, ngày 29/4/1975, hậu cần Quân đoàn đã di chuyển, lập ngay một cụm hậu cần mới ở Bình Mỹ (dự trữ 320 tấn vật chất, có 39 tấn đạn và xăng dầu) sẵn sàng bảo đảm cho sư đoàn đánh địch. Sáng ngày 30/4/1975, Sư đoàn Bộ binh 312 đã đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu ở Phú Lợi, Bến Cát, Lai Khê, Mỹ Thạnh... tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn Sư đoàn 5 ngụy. Nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp nổi dậy giải phóng tỉnh Bình Dương.

Ở hướng thọc sâu, được Cụm pháo của Lữ đoàn Pháo binh 45 ở Búng chi viện đắc lực, sáng 29/4/1975, Sư đoàn Bộ binh 320B đánh lướt qua các cứ điểm vòng ngoài, giải phóng quận lỵ Lái Thiêu và thọc thẳng 2 mũi vào đánh chiếm Khu binh chủng ngụy ở Gò Vấp và Bộ Tổng tham mưu ngụy (lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975). Cùng lúc đó, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đánh chiếm Dinh Độc Lập, toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn bị bắt và đầu hàng. Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi trọn vẹn, Sài Gòn và miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

Đại tá-ThS TRẦN ĐÌNH QUANG